Công suất xử lý chất thải nguy hại tại nhà máy đạt: 650 kg/giờ.
Hình 1
Sơ đồ công nghệ lò đốt chất thải số 02
* Thuyết minh quy trình công nghệ:
(1) Chuẩn bị rác đốt, mồi lò và nạp rác đốt:
– Các loại chất thải (bao gồm rác snh hoạt, công nghiệp thông thường và nguy hại) sau khi được thu gom về sẽ được phân loại, phá dỡ và thu hồi phế liệu sau đó chất thải được tập kết tại khu vực lưu chứa rác đốt trước khi vận hành.
– Quá trình mồi lò: Nạp nguyên liệu mồi lò vào lò bằng gỗ, củi vụn… và Bật Bép đốt dầu tại Buồng đốt sơ cấp (02 bép đốt) và Buồng đốt thứ cấp (02 bép đốt). Nhiên liệu đốt sử dụng là dầu DO tái chế/ Dầu DO mới/ Chất thải lỏng dễ cháy. Khi nhiệt độ tại buồng đốt sơ cấp đạt 400 0C – 700 0C thì tiến hành nạp rác đốt vào buồng đốt sơ cấp.
– Nạp rác đốt: Rác đốt được nạp qua từng mẻ thông qua Gầu nạp rác tự động. Nạp rác lần đầu khi mồi lò đạt nhiệt độ Buồng đốt sơ cấp đạt 450 0C – 700 0C (lớn hơn 700 0C hoặc 450 0C khi QCVN 30:2025/BNNMT có hiệu lực ngày 09/02/2026); Nạp rác những lần kế tiếp được cài đặt thời gian tự động hoặc bằng tay với khoảng thời gian phù hợp công suất 400-500 kg/h và nạp mỗi khi Nhiệt độ buồng sơ cấp giảm; Đối với chất thải lỏng được nạp thông qua bép phun số 02 tại Buồng đốt sơ cấp, nạp chất thải lỏng mỗi khi nhiệt độ tại Buồng đốt sơ cấp tăng dần và trên 750 0C hoặc 450 0C khi QCVN 30:2025/BNNMT có hiệu lực ngày 09/02/2026.
(2) Buồng đốt sơ cấp:
Là nơi tiếp nhận rác và tiến hành quá trình nhiệt phân rác thành thể khí. Buồng đốt dạng sàn lò nằm nghiêng, tại sàn lò buồng sơ cấp có 03 (ba) tầng đẩy rác và xỉ dịch chuyển trong lò. Rác công nghiệp và nguy hại sẽ được 3 đầu đẩy rác có cơ cấu piston xylanh dầu thuỷ lực đẩy rác chuyển động trên các sàn đốt này. Rác chuyển động tịnh tiến trên sàn tầng 3 (Sàn đốt cao nhất) và rơi xuống sàn đốt tầng 2. Rác từ sàn đốt tầng 2 được đẩy xuống sàn đốt tầng 1, ở sàn đốt tầng 1 rác đã cháy kiệt tro đáy được rơi xuống khoang chứa tro và được thiết bị đẩy tro kiểu piston dầu thuỷ lực. Tro đáy sẽ rơi vào thùng hứng tro đặt dưới hố. Thời gian lưu cháy chất thải trong buồng đốt sơ cấp phải đủ dài, thời gian này phụ thuộc vào đặc tính của từng mã chất thải công nghiệp và cường độ cháy rác. Chu kỳ đẩy rác trên mỗi sàn đốt của buồng đốt sơ cấp được khống chế tự động, hoặc thao tác bằng tay qua các phím điều khiển. Không khí cấp cho sự cháy được thổi qua các hàng lỗ gió ở hai tường bên. Nhiệt độ buồng sơ cấp duy trì ≥ 6500C.
Cuối buồng đốt có lắp máy tháo xỉ là bộ sàn ghi xen kẽ, các lớp tĩnh và lớp động có chức năng phá nhỏ một phần xỉ, lắc xỉ và đẩy ra ngoài và làm kín buồng đốt, động lực là xi lanh thủy lực, hành trình lắc ghi 150mm. Tại hố thu xỉ ngoài là có đặt thùng thu xỉ để dùng xe nâng chuyển đi xử lý khâu cuối cùng.
(3) Buồng đốt thứ cấp:
Buồng đốt thứ cấp nằm ngang có chức năng đốt các khí còn có thể cháy được và muội cac bon từ buồng đốt sơ cấp thổi sang. Các phản ứng cháy này toả nhiệt và nâng cao thêm nhiệt độ của buồng đốt thứ cấp. Nhiệt độ buồng đốt thứ cấp cao từ 1050 0C đến 1.200 0C (đáp ứng phù hợp yêu cầu QCVN 30:2025/BNNMT có hiệu lực ngày 09/02/2026) thời gian lưu khí trong buồng đốt thứ cấp dài ≥2s, cường độ xáo trộn và mức độ chảy rối cao của dòng khí là 3 nhân tố chính sẽ loại trừ các khí Dioxin và Furan. Mỏ đốt dầu DO có chức năng đốt để bổ sung nhiệt cho lò, khi nhiệt độ của lò không đạt tới 1050 0C hoặc 1.200 0C tuỳ theo thành phần halogen hữu cơ có trong chất thải nguy hại (đáp ứng phù hợp yêu cầu QCVN 30:2025/BNNMT có hiệu lực ngày 09/02/2026). Mỏ dầu DO tự động bật và tự động tắt khi nhiệt độ lò thấp hơn hoặc cao hơn so với nhiệt độ đặt đã được chọn và đặt trước cho lò. Không khí cấp cho sự cháy của buồng đốt sơ cấp và thứ cấp được thổi vào lò qua hệ thống ống cung cấp không khí. Để định kỳ làm vệ sinh đáy của buồng đốt thứ cấp sẽ bố trí 1 cửa vào buồng đốt thứ cấp, tiếp theo buồng đốt thứ cấp nằm ngang là cụm gồm 3 buồng đốt thứ cấp đứng năm can nhiệt đo nhiệt độ được đặt tại các vị trí: Buồng đốt sơ cấp; cuối buồng đốt thứ cấp nằm ngang, trước và sau thiết bị giải nhiệt khí thải; vị trí lấy mẫu khí thải ở ống khói. Các giá trị nhiệt độ được hiển thị trên đồng hồ và màn hình đặt ở cabin điều khiển. Lò còn có van phòng nổ và có ống Bypass để xả khí thải của lò khi mất điện hoặc khi có sự cố. Lò có bố trí ở tường bên để đốt chất thải ở thể lỏng. Sau khi khí thải ra khỏi buồng đốt thứ cấp đứng sẽ qua kênh dẫn khí thải vào hệ thống xử lý khí thải.
Tại vị trí cuối của Buồng đốt thứ cấp (2) được lắp đặt can đo nhiệt để đo nhiệt độ của dòng khí thải trước khi đi vào tháp giải nhiệt gián tiếp bằng nước.
(4) Thiết bị giải nhiệt gián tiếp bằng nước:
Thiết bị hạ nhanh nhiệt độ khí thải (thiết bị giải nhiệt nhanh) thực hiện chức năng: Giảm nhanh nhiệt độ khí thải từ 1.000-1200 0C (đảm bảo nhiệt độ trước khi đi vào thiết bị giải nhiệt không nhỏ hơn 1.000 0C) xuống dưới 300 0C (khi đốt chất thải nguy hại) để tránh tái sinh dioxin và furan. Khí thải có nhiệt độ cao trao đổi nhiệt gián tiếp với nước qua các vách ống. Khí thải đi bên trong các ống kim loại, nước bao bên ngoài các ống kim loại. Nước nhận nhiệt , nhưng chưa chuyển thành pha hơi. Nước này sẽ được đưa sang Hệ thống bể giải nhiệt khói lò để giải nhiệt và tái sử dụng lại. Khí thải sau khi qua tháp giải nhiệt có nhiệt độ <=3000C (đáp ứng phù hợp yêu cầu QCVN 30:2025/BNNMT có hiệu lực ngày 09/02/2026) sẽ được đi qua Xyclone.
(5) Xyclone:
Xyclone được thiết kế dạng Xyclone ướt có Béc phun kiềm. Dòng khí sau khi đi qua lớp phun sương kiềm được chuyển động xoáy trong không gian của thiết bị dạng hình trụ: Do tác động của lực ly tâm, các hạt bụi, hoặc các hạt lỏng có trong khói bị văng về phía thành của xyclon và tách khỏi dòng khí. Khói sạch, tiếp tục chuyển động xoáy và sau đó ngoặt hướng 180 độ và đi ra khỏi xyclon qua ống thải hình trụ đặt ở tâm trục xyclone. Các hạt bụi, sau khi va đập vào bề mặt trong của xyclon, dưới tác động của dòng chuyển động hướng trục và của trọng lực sẽ chuyển động về phía ống thu bụi hình côn phễu và được lấy ra ngoài ở đáy phễu. Phần bụi, cặn, bùn (ướt) được xả đáy định kỳ thu gom đưa về xử lý tại Hệ thống Lò đốt. Khí thải tiếp tục di chuyển sang Tháp hấp thụ 01 và 02 của Hệ thống xử lý khí thải
(6) Tháp hấp thụ 01 và 02:
Khí thải có chứa tro bay, CO2; H2O, CO, O2 dư , và các khí có tính axit (Cl2, HCl, HF, SO2…) Bụi và tro bay có kích thước lớn ( ³ 5 mm) đã được thu ở xyclon ướt.
Tháp hấp thụ có chức năng trung hòa các khí có tính axit. Môi chất để trung hòa các khí có tính axit là các chất có tính kiềm: Ca(OH)2, hoặc NaOH, hoặc Sodium bicarbonate NaHCO3.
Tháp hấp thụ theo phương pháp ẩm: Môi chất kiềm Ca(OH)2 ở trạng thái “nước” trong bể nước tuần hoàn có tính kiềm, độ pH = 9- 10 được máy bơm và hệ thống béc, phun vào tháp hấp thụ. Các loại khí thải SO2, Cl2, HCl, HF, CO2, NOx đều được dung dịch hấp thụ hấp thụ vào trong dung dịch và đưa về Hệ thống xử lý nước thải khối lò để xử lý và tuần hoàn tái sử dụng lại sau khi đã xử lý, bổ sung môi chất kiềm. Khí thải sau khi được xử lý hấp thụ sẽ được di chuyển sang Thiết bị tách nước
(7) Thiết bị tách nước:
Để hiệu suất hấp phụ các khí độc bằng than hoạt tính cao, ta phải tách nước khỏi dòng khí thải trước khi vào thiết bị hấp phụ. Nguyên lý tách nước của thiết bị:
+ Giảm tốc độ khí thải ; giảm áp suất động và tăng áp suất tĩnh
+ Va đập quán tính vào thành ống và đột ngột đổi hường dòng chảy
(8) Thiết bị hấp phụ bằng than hoạt tính:
Để khử dioxin và furan, cần quan tâm các yếu tố sau :
+ Nhiệt độ của buồng đốt thứ cấp càng cao càng tốt. Khi đốt chất thải nguy hại, nhiệt độ buồng đốt thứ cấp cần đạt ³ 1050 0C
+ Thời gian lưu khí trong buồng đốt thứ cấp t ³ 2 s
+ Buồng đốt sơ cấp và buồng đốt thứ cấp luôn luôn được khống chế ở áp suất âm.
+ Khí thải ra khỏi buồng đốt thứ cấp, cần hạ nhanh nhiệt độ xuống dưới 300 0C
Khi thiết kế và vận hành lò, chúng ta đã lưu tâm và tôn trọng các yếu tố nêu trên, nhưng trong thực tế, ta vẫn không khẳng định được là khí thải của lò đã được khử hết các kim loại nặng, dioxin và furan. Vì vậy trong hệ thống xử lý khí thải, ta cần lắp đặt thiết bị chứa than hoạt tính để hấp phụ các khí độc còn sót lại. Thể tích của thiết bị chứa than hoạt tính được tính toán và lắp đặt là 0,058 m3. Trong thiết bị có 3 khay than hoạt tính , mỗi khay chứa 9 kg than hoạt tính; Thời gian thay than hoạt tính để đảm bảo hiệu quả hấp phụ khoảng 15 ngày vận hành liên tục hoặc đạt Khối lượng rác đốt 180 tấn. Khí thải sau khi qua Thiết bị hấp phụ than hoạt tính đạt QCVN 30:2012/BTNMT và QCVN 30:2025/BNNMT.
(9) By pass:
Cuối buồng đốt thứ cấp có kênh dẫn khí sang ống thoát khẩn, tại ống thoát khẩn có lắp một van thoát khẩn ở trạng thái luôn đóng. Khi sự cố lò như mất điện đột ngột lò đang cháy khí không thoát ra được, van thoát khẩn được mở khẩn cấp để thoát khí ra ngoài mà không đi vào hệ thống xử lý khí thải.
(10) Bể xử lý nước thải tuần hoàn:
Bể dung dịch xử lý nước có cấu tạo nhiều ngăn có chức năng nhận nước thải sau xử lý có chứa tro bụi lắng cặn được chứa về ngăn cuối cùng, các ngăn tiếp theo dẫn nước chảy rích zắc về ngăn lắng lọc cuối. Tại ngăn này, đặt trạm bơm để tiếp tục hút dung dịch phun vào các tháp để xử lý khí. Các ngăn của bể dung dịch được dẫn lưu bằng các cửa dạng dích zắc có tấm vách lọc chắn rác để tách rác, lắng cặn và giảm nhiệt độ dung dịch. Dung dịch xử lý khí được bổ sung nước, sữa vôi (khuấy lọc từ một bể riêng rẽ) để duy trì độ pH dao động từ 8 – 10 và phèn nhôm PAC tạo bông lắng. Cặn bẩn sau mỗi đợt vận hành lò đốt được hút đưa đi xử lý.
(11) Xử lý tro bùn và nước thải sau xử lý:
Tro của lò đốt rác xả ra từ buồng sơ cấp chiếm khoảng 3-5% tổng lượng rác thiêu đốt, sau khi được xử lý ở nhiệt độ cao đã hoàn toàn triệt tiêu các chất hữu cơ, vi trùng và vi khuẩn nguy hại, vẫn tiếp tục được đưa đi xử lý.
Váng bọt bẩn trong bể dung dịch tuần hoàn được hớt lên cùng với nước được cho vào các bao chứa rác khô có thể đem đi đốt lại nhằm tăng độ ẩm, nhằm giảm tốc độ nhiệt phân ban đầu.
Dung dịch đã qua sử dụng nhiều lần được tháo qua bể xử lý nước chung của hệ thống xử lý nước thải của nhà máy.
Cặn xả ra từ bể dung dịch được đốt lại trong lò ở dạng lỏng hay rắn hoặc đem đi xử lý như ổn định – hoá rắn.
Kho lưu chứa chất thải nguy hại với tổng diện tích 2400 m2

